Học chứng chỉ kế toán

Trang chủ » Luật thuế mới » Giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc vợ và chồng

Giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc vợ và chồng

Các cặp vợ chồng đều đi làm và có con chung hoặc nghĩa dưỡng bố mẹ già không còn sức lao động vậy mức giảm trừ gia cảnh tính như thế nào?

***Căn cứ:

– Điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh:
“c.1) Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế:
c.1.1) Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.

c.2.4) Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế”
– Điểm đ Khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định:
“đ) Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại các tiết d.2, d.3, d.4, điểm d, khoản 1, Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
đ.1) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
đ.1.1) Bị khuyết tật, không có khả năng lao động.
đ.1.2) Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.”

= > Như vậy:

+ Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.
+ Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc. Riêng đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều này thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế, quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế đó.

+ Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế.

 

Ví dụ: Vợ ông Chu Đình Xinh sinh con vào tháng 08/2016 và công ty có đăng ký giảm trừ gia cảnh cấp MST cho con đẻ ông A vào 25/11/2016 thì khi quyết toán

– Được tính giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc từ tháng 08/2016

– Giả sử công ty đăng ký cấp MST người phụ thuộc vào 05/01/2017 => Ông Chu Đình Xinh không được tính tính giảm trừ năm 2016 do quá thời hạn.
Ví dụ: hai vợ chồng có một con chung chưa thành niên thì người con đó chỉ được tính giảm trừ vào thu nhập của người vợ hoặc người chồng mà không thể cùng kê khai giảm trừ cho cả hai vợ chồng.

– Mức giảm trừ gia cảnh: Các khoản giảm trừ trên là số tiền được trừ trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.

1. Bản thân: 9 triệu đồng/ tháng; 108 triệu đồng/ năm;
2. Người phụ thuộc: 3,6 triệu đồng/ tháng/mỗi người phụ thuộc.
3. Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.
4. Nếu trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế.
5. Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng ký thuế và được cấp mã số nếu. Nếu người nộp thuế chưa có mã số thuế thì không được giảm trừ cho người phụ thuộc. Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế (Nếu vợ hoặc chồng có con nhỏ thì chỉ được chọn 1 trong 2 người để được hưởng giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc)
6. Khoản 5 Điều 6 Thông tư 95/2016/TT-BTC quy định: “Cơ quan chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thuế cho cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và đăng ký thuế cho người phụ thuộc của cá nhân một lần trong năm chậm nhất là 10 ngày làm việc trước thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân hàng năm”.
7. Trường hợp người nộp thuế ký hợp đồng lao động trên ba tháng ở hai nơi thì người nộp thuế được phép giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một cơ quan chi trả thu nhập và giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc tại cơ quan chi trả thu nhập khác.

+ Ví dụ:

Ông Chu Đình Xinh năm 2017 có thu nhập 2 nơi là Công ty A = 9 triệu/ tháng, Tại công ty B là 7 triệu / tháng, Ông Xinh có 02 con nhỏ và có làm thủ tục giảm trừ người phụ thuộc 3.6triệu / người x 02=7.2 triệu

Vậy khi quyết toán tính thuế tncn của ông Xinh như thế nào? Có phải nộp thuế TNCN không?
Trong năm ông Xinh làm như sau:

- Tại công ty A ông Xinh lựa chọn giảm trừ bản thân là 9 triệu đồng/ tháng => Thu nhập chịu thuế ông Xinh = 9 triệu/ tháng – 9 triệu giảm trừ bản thân = 0 (ông Xinh sẽ không được giảm trừ người phụ thuộc cho 2 con nhỏ tại công ty A)

- Tại công Ty B ông Xinh lựa chọn giảm trừ người phụ thuộc 02 con nhỏ = 7 triệu/ tháng – 7.2 triệu/ tháng (02 người phụ thuộc x 3.6triệu/ người) < 0 (ông Xinh sẽ không được giảm bản thân tại công ty B)

= > Vậy tại công ty A, B ông Xinh không phát sinh thuế TNCN
***Chi tiết tại: Công văn 34683/CT-TTHT ngày 26/05/2017 giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân Hà Nội.

Bài viết liên quan:

Leave a Comment