Học chứng chỉ kế toán

Trang chủ » Luật thuế mới » Mối quan hệ giữa sổ hộ khẩu quyền sử dụng đất quyền thừa kế

Mối quan hệ giữa sổ hộ khẩu quyền sử dụng đất quyền thừa kế

Mọi người có phản ứng gay gắt về chuyện ghi tên thành viên hộ gia đình trên sổ đỏ, bởi họ cứ nghĩ có tên trong sổ hộ khẩu thì sẽ đựơc ghi tên trên sổ đỏ.

Đây là sai lầm nghiêm trọng trong cách nghĩ và suy diễn vốn đã tồn tại lâu đời, càng nghiêm trọng hơn nếu bạn là một cán bộ tư pháp hay cán bộ địa chính tại địa phương, vì từ cách hiểu này mới đẻ ra những thứ giấy tờ, thủ tục rối rắm buộc phải có khi người dân có yêu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay yêu cầu phân chia di sản thừa kế và các thủ tục khác liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền thừa kế.

Sổ hộ khẩu, quyền sử dụng đất và cả quyền thừa kế là độc lập và không có mối quan hệ liên thông với nhau, như cách hiểu nhầm lẫn của nhiều người hiện nay.

Theo Luật cư trú 2006 thì sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

Như vậy, tồn tại trong sổ hộ khẩu bao gồm chủ hộ, thành viên hộ gia đình và thành viên khác có nơi thường trú tại nơi được cấp sổ.

Sổ hộ khẩu là phương thức để quản lý nơi cư trú của công dân.

Theo Luật đất đai 2013 thì Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Vậy, những người trong một hộ gia đình có quyền sử dụng đất phải đáp ứng 3 điều kiện:

  • Thứ nhất, về mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng
  • Thứ hai, đang sống chung với nhau
  • Thứ ba, có quyền sử dụng đất tại thời điểm được giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Nếu so với các thành viên trong sổ hộ khẩu thì chỉ mới đáp ứng được điều kiện sống chung, những thành viên có tên trong sổ hộ khẩu vẫn có thể không thuộc mối quan hệ hôn nhân, huyềt thống, nuôi dưỡng và cũng có thể không có quyền sử dụng đất.

Vậy, có tên trong sổ hộ khầu thì chưa chắc là thành viên hộ gia đình sử dụng đất mà còn phải đáp ứng 2 điều kiện về mối quan hệ và quyền sử dụng đất.

Thêm nữa, đó là quyền thừa kế, cứ ngỡ rằng có tên trong sổ hộ khẩu thì phải được chia thừa kế khi một trong các thành viên trong hộ gia đình mất. Sổ hộ khẩu là cơ sở để xác định mối quan hệ nhân thân.

Đây là quan niệm hoàn toàn sai, bởi theo Bộ luật dân sự 2015, thừa kế có 2 loại: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.

 

Và những người thừa kế theo pháp luật được quy định như sau:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Vì rất nhiều lý do mà những người thừa kế theo quy định nêu trên có thể không có tên trong sổ hộ khẩu của người đã mất. Và để chứng minh mối quan hệ với người đã mất được hưởng quyền thừa kế theo quy định pháp luật là Giấy khai sinh hoặc các giấy tờ khác có giá trị chứng minh mối quan hệ nêu trên.

Như vậy, cách xác định các thành viên là khác nhau.

Sổ hộ khẩu chỉ là loại giấy để xác định các thành viên cùng thường trú tại một địa điểm, các thành viên có thể có mối quan hệ huyết thống hoặc không, còn quyền sử dụng đất của hộ gia đình là phải xác định các thành viên có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng cùng sống chung và có quyền sử dụng đất tại thời điểm được giao đất, cho thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất. Và người được hưởng quyền thừa kế là xác định theo mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.

Bài viết liên quan:

Leave a Comment